BÀN VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ KIẾN TRÚC NỘI THẤT
Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu sơ về học thuyết âm dương ngũ hành và phân tích những sự tác động và tương quan của âm dương ngũ hành trong kiến trúc và kiến trúc nội thất
Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch". Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt (--) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (-), (--) là hai phù hiệu cổ xưa nhất của người Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa bởi âm dương biến đổi cho nhau.
Theo lý thuyết trong "Kinh Dịch" thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ". Như vậy, tác giả của “Kinh Dịch" đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động. Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương. Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ. Như trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đã bước đầu phát hiện được những mặt đối lập tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào cũng có một thái cực, thái cực là ầm dương).
Từ những quan niệm trên về âm dương, người xưa đã khái quát thành quy luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này: Trước hết, âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng lại thống nhất với nhau, cùng tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên. Âm dương đối lập, mâu thuẫn nhau trên nhiều phương diện. Về tính chất: dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh. Về đường đi lối về: dương là thăng (đi lên), âm là giáng (đi xuống), "cái này đi ra thì cái kia đi vào, cái này dịch sang bên trái, thì cái kia dịch sang bên phải".
Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời lấy số 1 mà sinh thành thủ, đất lấy số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành.
Quan điểm ngũ hành và sự ứng dụng của nó đối với đời sống con người được bàn nhiều nhất trong tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Những lời bản trong bộ sách này đã khẳng định học thuyết ngũ hành có vai trò hết sức quan trọng đối với y học cổ truyền Trung Quốc.
Mối quan hệ giữa các hành trong ngũ hành được thực hiện qua các quy luật của ngũ hành.
Ngũ hành tương sinh: sinh có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ. Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát sinh và phát triển. Đó gọi là ngũ hành tương sinh. Quan hệ tương sinh của ngũ hành là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Ngoài quy luật tương sinh còn có quy luật tương khắc. "Khắc" có nghĩa là chế ước, ngăn trở, loại trừ. Thứ tự của ngũ hành tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hoả khắc kim, kim khắc mộc.
Trong ngũ hành tương sinh đồng thời cũng cổ ngũ hành tương khắc, trong tương khắc cũng ngụ có tương sinh. Đó là quy luật chung về sự vận động, biến hóa của giới tự nhiên. Nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng, có tương khắc mà không có tương sinh thì vạn vạt không thể có sự sinh hóa. Vi vậy, tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiểu được để duy trì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi sự vật.
Quy luật tương sinh tương khắc là chỉ vào quan hệ của ngũ hành dưới trạng thái bình thường. Còn nếu giữa ngữ hành với nhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cân đối mà xảy ra trạng thái trái thường thì gọi là "tương thừa", "tương vũ".
Quy luật tương sinh tương khắc là chỉ vào quan hệ của ngũ hành dưới trạng thái bình thường. Còn nếu giữa ngữ hành với nhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cân đối mà xảy ra trạng thái trái thường thì gọi là "tương thừa", "tương vũ".
Như đã nêu ở trên, âm dương là 2 mặt của sự sống, sự đảm bảo của âm dương là sự đảm bảo cho cuộc sống tồn tại và phát triển. Vì vậy nhà ở cũng phải đảm bảo các nguyên tắc âm dương cân bằng. Trong kiến trúc về mặt hình thể thì phần lồi ra là dương, phần lõm vào là âm. Phần thu được ánh sáng là dương, phần khuất tối là âm. Những mảng đặc, những khối có đường nét cứng rắn là dương, những mảng rỗng, những khối có đường nét uyển chuyển là âm. Vật liệu thô ráp, sần sùi là âm, vật liệu nhẵn bóng, mịn màng là dương. Màu sắc nóng là dương, màu sắc lạnh là âm.
Kiến trúc nhà ở phải được thiết kế để đảm bảo tính cân bằng của âm dương. Nếu do kiến trúc ngồi nhà ở thuần dương thì dương khí quá vượng, khiến cho người cứ ngụ trong ngôi nhà đó bất ổn định, quá năng động, tinh thần dễ phấn khích dẫn đến hấp tấp, vội vàng, vì thế dễ đưa ra những quyết định thiếu chin chắn, bất lợi. Nhà ở thuần dương khiến cho người cư ngụ ở đó thích đi lại hoạt động, thích cuộc sống bên ngoài, không muốn về nhà ( nhất là những người mệnh dương ). Họ có thể thường xuyên vắng nhà, bù khú vui chơi với bạn bè ở ngoài không thích về nhà, hoặc có chăng chỉ là về đảo qua hoặc là chỉ về để ngủ.
Ngược lại, nếu nhà thuần âm, khí âm quá vượng, thường dẫn tới chỗ u mê, trì trệ, khiến cho những người sống trong ngôi nhà đó trở nên lười nhác, bảo thủ, ngại vận động lại ít chịu suy nghĩ, không quyết đoán, không dám chấp nhận đương đầu với khó khắn mà thường dễ bằng lòng với những gì mình có. Thậm chí với những người mệnh âm còn chịu sự tác động mạnh hơn, khiến họ có thể trở nên yếu đuối, nhút nhát,, ngại va chạm, tự ti. Ở ngôi nhà thuần âm cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều bệnh tật nảy sinh, đặc biệt là những bệnh về đường ruột, phong thấp, phù thũng,… Vì vậy một ngôi nhà muốn cho những người cư ngụ trong đó được phát triển bình thường và hài hòa thì ngôi nhà đó phải được đảm bảo âm dương cân bằng. Đó chính là yêu cầu số một trong kiến trúc hiện đại.
Nguyên tắc đảm bảo hài hòa âm dương khiến cho trong thiết kế kiến trúc khi thiết kế một khối lồi ra (dương) thì sau đó phải trả lại một khối lõm vào ( âm ). Khối lồi ra nên dùng vật liệu nhám, sần sùi, thô ráp để lấy thiếu âm thái dương như lát hay ốp chân tường bằng đá xẻ, gạch thẻ…. Ngược lại khối lõm vào, hay phần thiếu ánh sáng ( âm ) nên dùng vật liệu láng bóng, trơn nhẵn, màu sáng, ấm, đê lấy cái thiếu dương bổ sung cho cái lão âm. Đó là một trong những giải pháp cân bằng âm dương trong kiến trúc.
Từng ngũ hành trong ngũ hành tương ứng với phương hướng trong kiến trúc thời cổ đại. Kim, mộc, thủy, hỏa thổ, trong ngũ hành là đối ứng với màu sắc, các mùa và phương hướng
Mộc: mùa xuân, hướng đông, mùa xuân và màu xanh, sự khởi đầu, vạn vật sinh sôi nảy nở, ôn hòa
Hỏa: Hướng nam, mùa hạ, màu đỏ, sự nóng bức, hướng lên trên, phía trước, thịnh vượng và phát triển
Kim: hướng tây, mùa thu và màu trắng, mát lạnh đìu hiu và suy thoái
Thủy: hướng bắc, mùa đông và màu đen giá rét lạnh lẽo, hướng xuống phía dưới, đêm khuya
Thổ: trung tâm, chỗ giữa nhất, mùa hè và màu vàng, sự dưỡng dục lâu dài và bền nhắc
1 Nhận xét
quao đúng là một kiến thức mới lạ, hy vọng bạn sẽ có nhiều sản phẩm cuốn hút hơn nữa !!!
Trả lờiXóa